Bệnh viện khách sạn, tại sao không!

818
Bệnh viện hiện đại đang dần trở thành một xu thế phát triển của ngành y tế.
 11:00:46 – Thứ ba, 01/01/2019

 

Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày một tăng cao, cùng với đó là những yêu cầu trong quá trình chăm sóc và điều trị bệnh. Để đáp ứng những nhu cầu cấp thiết ấy, mô hình bệnh viện khách sạn (BVKS) đã và đang từng bước phát triển, giúp người dân có cơ hội tiếp cận với dịch vụ y tế tốt nhất.

 

 

Từ một trung tâm sản nhi…

Vào tháng 11/2018, Trung tâm Sản Nhi (BV đa khoa tỉnh Phú Thọ) khánh thành. Đây là Trung tâm thứ 10 của BV này, nằm trong định hướng phát triển mô hình bệnh viện đa khoa, đa trung tâm chuyên sâu.

Trung tâm Sản Nhi có quy mô giai đoạn I là 500 giường bệnh được đầu tư dưới hình thức xã hội hóa, với tổng mức đầu tư 1.500 tỷ đồng. Bao gồm 2 khối nhà 5 tầng và 7 tầng, tổng diện tích sàn xây dựng 39.740 m2. Trung tâm được thiết kế theo mô hình BVKS, đảm bảo hài hoà đẹp về kiến trúc, thân thiện với môi trường. Về cơ cấu tổ chức gồm 5 phòng chức năng và 19 khoa lâm sàng, cận lâm sàng chuyên sâu trong lĩnh vực Sản khoa và Nhi khoa.

Từ khi Trung tâm Sản Nhi đi vào hoạt động, tuy thời gian chưa lâu nhưng cũng đã chứng minh được tính thiết thực, khi ngày càng có nhiều người tin tưởng tìm đến, cho dù chi phí dịch vụ cao. Bù lại, họ được chăm sóc tốt, với các phương tiện trang thiết bị y tế hiện đại. Đặc biệt là tinh thần phục vụ của nhân viên y tế “khác hẳn ở bệnh viện thường”. Sự ra đời Trung tâm Sản Nhi ở Phú Thọ cũng góp phần giảm tải cho BV tuyến Trung ương.

Với phương châm đưa các dịch vụ y tế tốt nhất đến gần dân, tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân, ngành y tế tỉnh Phú Thọ đã và đang có những bước đi mang tính đột phá. Theo nhận xét của nhiều người, việc phát triển mô hình BVKS là một hướng đi nhiều triển vọng.

…Đến một hướng đi đúng

Với mô hình BVKS, người dân đã được tiếp cận với mô hình chăm sóc sức khỏe hiện đại, tiên tiến, và cũng là “nhân vật trung tâm” của hoạt động điều trị và chăm sóc sức khỏe. Cụ thể, người dân khi đến khám bệnh tại các cơ sở y tế theo mô hình BVKS đều được tiếp đón nhiệt tình, được thông tin và tư vấn về các gói chăm sóc sức khỏe, điều trị bệnh; được chọn lựa những phương pháp điều trị tốt nhất cho bản thân và gia đình. Cùng đó, BVKS còn đảm bảo đầy đủ các yếu tố xanh – sạch – đẹp với thiết kế hòa hợp với thiên nhiên, thân thiện với môi trường; có khu vui chơi, nghỉ dưỡng, khu vực masage, thư giãn với các dịch vụ kèm theo đảm bảo người bệnh sẽ được chăm sóc một cách tốt nhất.

Người dân vẫn bị ám ảnh khi phải đến chăm sóc sức khỏe, trị bệnh tại các BV; thì nay đến với BVKS, nỗi ám ảnh đó không còn. Đáng chú ý, tại các BVKS, trang thiết bị y tế cùng với trình độ chuyên môn của đội ngũ thầy thuốc đều vượt trội. Đây là yếu tố rất quan trọng thu hút người đến khám chữa bệnh, cho dù có phải trả chi phí cao hơn. Nói như nhiều người từng điều trị tại BVKS, thì cũng “đáng đồng tiền bát gạo”, “tiền nào của nấy”.

Trong quá trình xây dựng BVKS, cũng có ý kiến cho rằng như vậy sẽ tạo ra sự bất bình đẳng xã hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, cuộc sống phát triển, một bộ phận dân cư giàu lên, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, điều trị bệnh tật trong một môi trường y tế tốt ngày một nhiều. Hệ thống BVKS với việc người dân được trị bệnh bởi những thầy thuốc tay nghề cao, trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh tốt, và thái độ phục vụ tốt cũng sẽ “giữ chân người bệnh” lại trong nước, không phải tốn số tiền quá lớn, thời gian kéo dài khi phải ra nước ngoài điều trị.

Thực sự thì BVKS không phải là mới mẻ, vì rất nhiều quốc gia đã xây dựng mô hình này từ nhiều chục năm trước. Và cũng do “đi trước”, nên họ thu được nhiều thành công.

Tại TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai…, khoảng 5 năm trở lại đây, mô hình BV quốc tế, BVKS cũng đã hình thành và có sự liên kết khá chặt chẽ. Nó cho thấy một hướng đi đúng, trong tương lai sẽ còn phát triển mạnh hơn.

Nỗ lực cải thiện dịch vụ y tế

Trong những năm qua, tốc độ tăng chi cho y tế luôn cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng chi bình quân. Tuy vậy, không chỉ trông chờ vào nguồn vốn của Nhà nước, mà cần đến nguồn lực của xã hội. Xã hội hóa y tế vì thế vừa là bài toán khó, nhưng đồng thời cũng là tương lai phát triển của ngành này.

Nhiều chính sách khuyến khích xã hội đầu tư vào lĩnh vực y tế đã được ban hành, nhờ đó đã thu hút vốn đầu tư từ khu vực tư nhân, giúp mở rộng cơ sở y tế và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Từ đó cũng đã làm thay đổi nhận thức của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập trong việc huy động vốn để có trang thiết bị phục vụ hoạt động chuyên môn, không chỉ trông chờ vào nguồn ngân sách nhà nước. Điều đó đã giúp các cơ sở khám bệnh công lập phát triển kỹ thuật, nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị, phát hiện sớm, chính xác bệnh tật, giảm tỷ lệ tử vong. Nhiều kỹ thuật mới, kỹ thuật cao đã được áp dụng, giúp cho trình độ kỹ thuật y tế của Việt Nam đang dần tiến bộ ngang với các nước tiến tiến trong khu vực.

Đánh giá về mô hình BVKS, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho rằng, trong bối cảnh ngành y tế đang nỗ lực cải thiện chất lượng dịch vụ y tế và đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng. Việc ra đời những cơ sở y tế hiện đại với trang thiết bị, cơ sở vật chất được đầu tư bài bản, có được sự ủng hộ và thu hút được của đội ngũ GS,BS, nhân viên y tế có trình độ chuyên môn là cần thiết và rất đáng mừng.

Bộ trưởng Bộ Y tế cũng đánh giá cao những BV, phòng khám chuyên khoa tư nhân quy mô lớn và chất lượng cao được nhiều người dân ủng hộ, nhất là tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội. “Đây cũng là mục tiêu quan trọng trong lộ trình phát triển hợp tác công – tư ở lĩnh vực y tế, nhằm nâng cao chất lượng, giảm tải cho các bệnh viện tuyến cuối”- theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến.

Nhìn chung, dù vẫn còn một số ý kiến băn khoăn về mô hình BVKS, những cơ sở y tế dịch vụ cao, nhưng có thể nói đó là nhu cầu từ thực tế, và vì thế nó sẽ ngày càng có cơ hội phát triển khi cuộc sống của người dân được nâng cao.

Theo Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, việc ra đời những cơ sở y tế hiện đại với trang thiết bị, cơ sở vật chất được đầu tư bài bản, có được sự ủng hộ và thu hút được của đội ngũ giáo sư, bác sĩ, nhân viên y tế trình độ chuyên môn cao là cần thiết và rất đáng mừng. Nhiều chính sách khuyến khích xã hội đầu tư vào lĩnh vực y tế đã được ban hành, nhờ đó đã thu hút vốn đầu tư từ khu vực tư nhân, giúp mở rộng cơ sở y tế và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; giúp cho trình độ kỹ thuật y tế của Việt Nam dần ngang bằng với các nước tiến tiến.

Đức Trân