Góp ý Dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992

Cần thể chế hóa chính sách đối với kiều bào

Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, chúng ta đã chủ trương phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, không chỉ của đồng bào trong nước mà cả đồng bào ta ở nước ngoài. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”.

Đã có nhiều phát biểu của Lãnh đạo, văn kiện của Đảng, Nhà nước nêu chủ trương, chính sách đại đoàn kết dân tộc, đại đoàn kết với người VN ở nước ngoài (NVNONN); trong đó đặc biệt thể hiện trong Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 tại Hội nghị TW lần thứ 7 khoá IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với NVNO NN.

Một số bất cập

Thứ nhất, về khái niệm liên quan đến đối tượng, có sự không thống nhất về từ ngữ/khái niệm trong các văn bản của Đảng và các văn bản thể chế chính sách, pháp luật do Nhà nước ban hành; dẫn tới không ít trường hợp thiếu nhất quán về đối tượng, phạm vi xây dựng, thực hiện chính sách. Ví dụ, Nghị quyết 36-NQ/TW và nhiều văn bản khác đề cập đến “người VN ở nước ngoài” (hoặc cộng đồng NVNONN); nhưng các văn bản pháp quy (kể cả Hiến pháp, luật) lại chỉ quy định cho “người VN định cư ở nước ngoài” và việc giải thích khái niệm/đối tượng này cũng chưa rõ ràng, chặt chẽ.

Về người VN định cư ở nước ngoài được giải thích lần đầu tiên tại Luật Quốc tịch VN năm 1998: “Người VN định cư ở nước ngoài là công dân VN và người gốc VN cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” nhưng chưa có văn bản nào giải thích “lâu dài” là bao lâu mà thường căn cứ vào “giấy phép cư trú” của nước sở tại.

Về NVNONN được giải thích lần đầu tiên tại Luật Quốc tịch VN năm 1998: “Người VN ở nước ngoài là công dân VN và người gốc VN đang thường trú hoặc tạm trú ở NN”. Đến nay, khái niệm này được dùng phổ biến trong các văn kiện của Đảng, văn nói, văn viết của Lãnh đạo nhưng không được dùng trong các văn bản pháp quy.

Về công dân VN ở nước ngoài: Hiến pháp quy định “công dân VN là người có quốc tịch VN”. Tuy nhiên, Luật Quốc tịch 2008 có quy định “công dân VN đồng thời có quốc tịch nước ngoài đang định cư ở nước ngoài... phải đăng ký với cơ quan đại diện VN ở nước ngoài để giữ quốc tịch VN”...

Thứ hai, trong vấn đề thể chế hóa chính sách, đã có nhiều văn bản thể chế hóa chính sách cho kiều bào trong hầu khắp các lĩnh vực, được ban hành như: quốc tịch, xuất nhập cảnh, sở hữu nhà đất, đầu tư, kiều hối... chủ yếu tạo thuận lợi khi về nước. Tuy nhiên, nhiều chính sách, biện pháp hỗ trợ cộng đồng ở ngoài nước như hỗ trợ pháp lý, giấy tờ, bảo hộ công dân, giữ an ninh cộng đồng, hỗ trợ thông tin, giữ bản sắc văn hóa, dạy tiếng Việt, xây dựng và củng cố hội đoàn, khen thưởng... còn chưa đáp ứng yêu cầu.

Luật Quốc tịch 2008 và một số văn bản, chính sách được kiều bào mong đợi, nhưng khi thực hiện đã bộc lộ vướng mắc, bất cập. Đến nay mới chỉ có chưa đến 3.000 người trong số hàng triệu người thuộc diện này đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Nếu không sửa đổi luật, sau ngày 1/7/2014 sẽ có rất nhiều NVNONN mặc nhiên mất quốc tịch VN. Bất cập cũng tồn tại trong các văn bản dưới luật hướng dẫn cấp Giấy chứng nhận có quốc tịch VN, Giấy chứng nhận là người gốc VN, dẫn tới cản trở việc thực hiện chính sách với kiều bào khi làm thủ tục sở hữu nhà ở, đầu tư... tại VN.

Một số kiến nghị:

Dự thảo Hiến pháp sửa đổi chỉ đề cập: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam” (thêm chữ “không thể tách rời” so với Hiến pháp 1992, bỏ cụm từ “và là một nguồn lực”). Dự thảo mới bỏ câu “Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài” trong khi tại cuộc họp mới đây tại Mặt trận Tổ quốc VN, đại biểu kiều bào đề nghị “bảo hộ quyền lợi chính đáng của kiều bào, của người về làm ăn, đầu tư trong nước”. Đề nghị giữ “bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài”.

Dự thảo Hiến pháp mới nêu: “Công dân VN không thể bị trục xuất... giao nộp cho Nhà nước khác”. Cần cân nhắc đối tượng công dân VN đồng thời có quốc tịch nước ngoài.

Trong xu thế mở cửa, hội nhập sẽ có nhiều kiều bào trở về nước; có nhà cửa, tài sản, kinh doanh cả trong và ngoài nước, đi về nhiều lần trong năm; không ít người sẽ vừa có quốc tịch, hộ khẩu ở Việt Nam, vừa có phép cư trú lâu dài ở nước ngoài. Việc quy định đối tượng “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” căn cứ vào thời gian ở nước ngoài “lâu dài” vừa không rõ ràng, vừa không đáp ứng xu thế hội nhập, phát triển và tinh thần Nghị quyết 36-NQ/TW: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam”. Do vậy, nên chăng cân nhắc trong Hiến pháp mới (và các văn bản pháp quy) chỉ nêu “Người Việt Nam ở nước ngoài”.

Dự thảo Hiến pháp sửa đổi và NQ36 xác định người VN (định cư) ở NN là “bộ phận không thể tách rời”, NQ36 cũng yêu cầu “thu thập ý kiến của đồng bào ở nước ngoài trước khi ban hành các văn bản pháp quy, chính sách có liên quan nhiều tới người Việt Nam ở nước ngoài”. Hiến pháp là một văn bản hết sức quan trọng. Bộ Ngoại giao, Ủy ban Nhà nước về NVNONN đã hướng dẫn CQĐD tập hợp ý kiến kiều bào cho Dự thảo Hiến pháp.

Tạ Nguyên Ngọc
Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu Tổng hợp, Ủy ban Nhà nước về NVNONN

Theo tgvn

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và chính sách đối ngoại của Việt Nam

Đồng chí Hồ Xuân Sơn phát biểu tại Hội nghị lấy ý kiến cán bộ, công chức ngành Ngoại giao về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.
Từ sau Cách mạng Tháng Tám lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cùng với từng bước phát triển của lịch sử đất nước, dân tộc ta đã bốn lần xây dựng và sửa đổi Hiến pháp vào các năm 1946, 1959, 1980 và 1992.

Đường lối đối ngoại của Việt Nam qua các bản Hiến pháp trước đây

Trong tất cả các bản Hiến pháp đó, những nguyên tắc cơ bản của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong từng giai đoạn đều được khẳng định một cách rõ ràng, nhất quán.

Bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa I thông qua ngày 9-11-1946. Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định: Việt Nam là một quốc gia "độc lập và thống nhất", " tiến bước trên đường vinh quang, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hòa bình của nhân loại". Ðây là nguyên tắc thể hiện đường lối đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa thoát khỏi ách thực dân, đang xây dựng và bảo vệ đất nước trong sự đe dọa của thù trong giặc ngoài. Tư tưởng xây dựng một nền hòa bình của nhân loại cũng được thể hiện như là một nguyên tắc tối cao của bản Hiến pháp này.

Sau năm 1954, đất nước ta bước vào giai đoạn mới với hai nhiệm vụ trọng đại vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc, vừa tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Mục tiêu của giai đoạn cách mạng này đã được thể hiện rất rõ ràng trong bản Hiến pháp năm 1959: "Nhân dân ta nhất địnhxây dựng thành công một nước VN hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào công cuộc bảo vệ hòa bình ở Đông Nam châu Á và thế giới". Đường lối đối ngoại hòa bình của đất nước ta một lần nữa được khẳng định, qua đó thể hiện lập trường chính nghĩa của Nhà nước và nhân dân VN cũng như khát vọng hòa bình của toàn dân tộc.

Hiến pháp năm 1980 ra đời sau đại thắng mùa xuân năm 1975, hai miền thống nhất, cả nước bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã kịp thời đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Lần đầu tiên, Hiến pháp VN có một điều riêng về đối ngoại. Điều 14, Hiến pháp năm 1980 quy định rõ ràng về đường lối đối ngoại giai đoạn mới: "tăng cường tình hữu nghị anh em, tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hợp tác về mọi mặt với Liên Xô, Lào, Campuchia và các nước xã hội chủ nghĩa khác", "bảo vệ và phát triển quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng, đoàn kết với nhân dân các nước", "thực hiện chính sách cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau". Với Điều 14 này, VN chính thức tuyên bố thực hiện chính sách tăng cường quan hệ với tất cả các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Đường lối đó đã được các nước ủng hộ. Số lượng các nước công nhận, thiết lập quan hệ ngoại giao với VN đã tăng lên nhanh chóng. Đường lối đối ngoại đúng đắn đó đã tạo tiền đề cho chính sách đổi mới ra đời vào giữa những năm 80 của thế kỷ 20.

Với tinh thần đổi mới, năm 1991, Đảng Cộng sản VN ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó xác định mục tiêu đối ngoại của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là "có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới". Tiếp đó, năm 1992, Quốc hội nước ta thông qua bản Hiến pháp của thời kỳ Đổi mới, trong đó đã thể chế hóa đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản VN, khẳng định rõ đường lối ưu tiên và những nguyên tắc chủ đạo đối với việc thực thi chính sách đối ngoại của đất nước. Đó là: "Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng; tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội". Hiến pháp năm 1992 là tuyên ngôn mạnh mẽ, khẳng định tinh thần và quyết tâm đổi mới, đồng thời khẳng định chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước của VN. Các nguyên tắc chỉ đạo nói trên đã trở thành cơ sở vững chắc cho việc mở rộng quan hệ đối ngoại và phát triển vị thế của VN trên thế giới.

Nguyên tắc đối ngoại trong giai đoạn cách mạng mới

Sau gần ba mươi năm thực hiện công cuộc Đổi mới, hơn hai mươi năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Từ một nước bị bao vây cấm vận, ngày nay chúng ta đã có quan hệ với 180 quốc gia, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng. Môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững; các nguồn lực quốc tế được tranh thủ hiệu quả phục vụ phát triển; vị thế đất nước không ngừng được nâng cao. Thế và lực của VN đã được nâng cao hơn bao giờ hết.

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, tình hình thế giới, khu vực và trong nước diễn ra những chuyển biến quan trọng, cơ hội phát triển mở ra rộng lớn; song, các nguy cơ đe dọa an ninh, phát triển và độc lập dân tộc cũng ngày càng phức tạp hơn. Nắm chắc xu thế đó, Đại hội lần thứ XI (tháng 1-2011) của Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ mới với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Về đối ngoại, Cương lĩnh năm 2011 đã nhấn mạnh một trong những bài học kinh nghiệm lớn là: "Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại". Cương lĩnh cũng đã vạch rõ phương hướng cơ bản cho đường lối đối ngoại từ nay đến giữa thế kỷ 21 là: "Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế". Trên cơ sở đó, Đại hội XI đã đề ra đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ trương chuyển từ hội nhập kinh tế quốc tế sang hội nhập quốc tế toàn diện; đã nêu bật phương châm đối ngoại: "Là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế" nhằm củng cố, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế đa phương; bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Những mục tiêu và đường lối đối ngoại mới đòi hỏi phải được thể chế hóa một cách khách quan trong bản Hiến pháp sửa đổi, nhằm khẳng định những nguyên tắc cơ bản cho giai đoạn cách mạng sắp tới.

Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã kế thừa được những tinh hoa của các Hiến pháp trước đó. Các giá trị trường tồn và bất biến trong tư duy đối ngoại của cha ông ta từ hàng nghìn năm qua là: "Hòa bình, tăng cường quan hệ hữu nghị, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi", tiếp tục được khẳng định là nguyên tắc cốt lõi trong đường lối đối ngoại của nhà nước ta. Trong bối cảnh đất nước ta "chủ động, tích cực hội nhập quốc tế", việc đề cao các nguyên tắc này bảo đảm để Việt Nam hội nhập mà không hòa tan, đồng thời đóng góp vào việc duy trì và nêu cao những giá trị, nguyên tắc căn bản của nhân loại được ghi nhận trong Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế.

Bên cạnh đó, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này cũng có bước phát triển mới, với một số nội dung liên quan đến đối ngoại, đáng chú ý là:

Thứ nhất, nội hàm "dân chủ" đã được đưa vào ngay Điều 1 của Dự thảo sửa đổi, khẳng định hình thái nhà nước là: "Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước dân chủ, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm cả đất liền, hải đảo, vùng trời và vùng biển". Ngay từ khi giành được độc lập, VN luôn phấn đấu trở thành nước dân chủ và thật sự đã là nước dân chủ. Nội hàm "dân chủ" đã được thể hiện trong những điều khác nhau qua các kỳ Hiến pháp. Riêng với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, việc bổ sung "dân chủ" Điều 1 ngay trước "độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ..." không chỉ tiếp tục khẳng định quyết tâm vì hạnh phúc ấm no, dân cường, nước thịnh mà còn là thông điệp mạnh mẽ khẳng định với cộng đồng quốc tế chủ trương phát triển rất nhân bản của VN.

Thứ hai, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã thể chế hóa được những phát triển mới quan trọng trong đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, đặc biệt tại Điều 12.

Dự thảo đã gắn liền vấn đề độc lập với tự chủ: "Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa VN thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,...". Độc lập và tự chủ là hai mặt thống nhất nhưng không đồng nhất với nhau của chủ quyền quốc gia. Độc lập thể hiện mặt pháp lý của chủ quyền, tức là chủ quyền trên danh nghĩa. Tự chủ thể hiện năng lực thực hiện chủ quyền, tức là chủ quyền trên thực tế. Độc lập và tự chủ của đất nước ta là mục tiêu và thành quả đấu tranh gìn giữ và bảo vệ của các thế hệ cha ông. Tư tưởng "không có gì quý hơn độc lập tự do" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định luôn là kim chỉ nam cho đường lối đối ngoại của VN và được Nhà nước VN luôn luôn kế thừa, giữ gìn và bảo vệ. Lịch sử dân tộc VN đã chứng minh rằng chỉ có độc lập và tự chủ, chúng ta mới kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, duy trì môi trường hòa bình, hợp tác và phát triển thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thế giới bước vào thế kỷ 21 với tốc độ toàn cầu hóa nhanh chóng, sự ràng buộc và tác động qua lại giữa các quốc gia ngày càng tăng. ÐĐiều 12 khẳng định VN "là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế". Nội dung này là một cam kết vững chắc với bạn bè thế giới về quyết tâm đóng góp một cách có trách nhiệm vào sự nghiệp chung của cộng đồng quốc tế. Nguyên tắc này cùng với nguyên tắc độc lập, tự chủ thể hiện nhà nước Việt Nam sẽ không vì lợi ích dân tộc của mình mà thi hành chính sách dân tộc cực đoan, hẹp hòi. Nhà nước VN bảo đảm với thế giới về sự gắn bó giữa lợi ích quốc gia dân tộc Việt Nam với lợi ích chung của nhân loại thông qua việc bảo đảm VN là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Hơn nữa, đây chính là một trong số các thành tố tạo nên hình ảnh đất nước VN trong sinh hoạt quốc tế kể từ khi " Đổi mới".

Chính vì vậy có thể khẳng định, nội dung: "Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa VN thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị xã hội, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới" như được quy định tại Điều 12 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã thể chế hóa được những phát triển mới quan trọng trong đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Phát triển, bổ sung này tạo tiền đề căn bản cho tiến trình hội nhập quốc tế sâu hơn, rộng hơn của đất nước.

Thứ ba, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện rõ chủ trương "chủ động, tích cực hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta" trên tất cả các lĩnh vực, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là mũi nhọn. Điều 53 quy định "Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa VN xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước...". Thực tế đã cho thấy sự phát triển của bất kỳ quốc gia nào cũng chịu sự chi phối và tác động từ sự phát triển chung của toàn cầu và ngược lại. Thành quả của 27 năm Đổi mới tạo cho đất nước ta một thế và lực mới để bước sang giai đoạn "chủ động, tích cực hội nhập". Việc thể chế hóa chủ trương này trong Hiến pháp là cơ sở để VN tiếp tục phát triển và khẳng định vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Tóm lại, qua hơn 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992 và bốn kỳ Đại hội Đảng, chúng ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, nhiều nhận thức mới mẻ về đất nước, dân tộc và về thời đại. Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn mới thực hiện Chiến lược công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, với trí tuệ của toàn thể nhân dân VN, bản Hiến pháp sửa đổi lần này sẽ tạo nền tảng pháp lý cao nhất cho chặng đường phát triển tiếp theo của đất nước ta, trong đó có việc triển khai đường lối đối ngoại của một nước VN độc lập, tự chủ, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

HỒ XUÂN SƠN
Ủy viên T.Ư Đảng, Thứ trưởng Ngoại giao


Trình bản mới dự thảo Hiến pháp

Hôm nay (8/4), bản dự thảo Hiến pháp mới nhất sẽ được trình Ủy ban dự thảo Hiến pháp sửa đổi.

Trong tuần qua, ban biên tập đã khẩn trương phân loại, tổng hợp các ý kiến đóng góp của nhân dân. Bản dự thảo mới nhất sau khi trình lên Ủy ban dự thảo sẽ tiếp tục được phân tích, góp ý trước khi trình Ủy ban Thường vụ QH giữa tháng này. 

hiến pháp, chủ tịch nước, điều 4
UB TƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức nhiều hội nghị lấy ý kiến góp ý về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Ảnh: Minh Thăng

Cũng theo kế hoạch, bản dự thảo sẽ được trình tại Hội nghị Trung ương đầu tháng 5 tới, sau đó sẽ được xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp Quốc hội.

Thường trực Ban Biên tập dự kiến sẽ có báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh sửa, bước đầu sẽ đưa ra một dự thảo mới trên cơ sở tiếp thu ý kiến góp ý của nhân dân.

Tháng trước, tại Hà Nội, ban biên tập dự thảo đã trình phiên họp đại biểu QH chuyên trách bản báo cáo giải trình sau 2 tháng tiếp nhận ý kiến nhân dân. Theo lập luận của ban biên tập, hầu hết các ý kiến đều đồng tình cơ bản với những nội dung chính của dự thảo. Với những góc nhìn khác (về điều 4, sở hữu tư nhân về đất đai, Tòa án Hiến pháp…), ban biên tập cho rằng cứ giữ nguyên như dự thảo là phù hợp. Gần như, chỉ có một vấn đề duy nhất được ban biên tập đưa vào “diện” sẽ nghiên cứu, tiếp thu là câu chuyện thu hồi đất vì dự án phát triển kinh tế - xã hội.

Song cho đến thời điểm hiện nay, đã có hơn 20 triệu lượt ý kiến của các tầng lớp nhân dân góp ý cho bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Người dân đã đọc rất kỹ từng điều khoản Hiến pháp và bổ sung nhiều ý mới.

Như truyền thông đã đưa tin, ngay tại phiên họp mới nhất của ban biên tập dự thảo Hiến pháp sửa đổi, nhiều nội dung mà người dân góp ý đã được tiếp thu, với những thay đổi đáng chú ý. Gần đây nhất, bản kiến nghị của Ban chỉ đạo cải cách Tư pháp Trung ương cũng đã được chuyển tới Ủy ban dự thảo với nhiều đề xuất mới mẻ và cụ thể như làm rõ vai trò Chủ tịch nước; trao thực quyền cho Hội đồng Hiến pháp; viết điều 4 ngắn gọn, đúng kỹ thuật lập hiến.

Như vậy, có cơ sở để tin rằng hình hài bản đạo luật gốc sắp tới sẽ phản ánh được ý nguyện của nhân dân, với những chỉnh lý và tiếp thu phù hợp. Như Chủ tịch QHNguyễn Sinh Hùng lưu ý, việc tiếp thu ý kiến dân cần nêu rõ cơ sở, lý lẽ, có sự lập luận chặt chẽ. Đối với những ý kiến chưa tiếp thu cần có sự giải trình với đầy đủ lý lẽ.

Lê Nhung/Theo vietnamnet

Triệu góp ý và một bản dự thảo

Thống kê cho thấy trong đợt cao điểm góp ý cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp, đã có tới 20 triệu lượt ý kiến. Hình hài của đạo luật gốc sẽ như thế nào?

Thời hạn lấy ý kiến đóng góp cho bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi kéo dài cho đến tháng 9, nhưng  đợt cao điểm lấy ý kiến đang trôi qua. Cơ quan chức năng sẽ bắt đầu tập hợp, phân loại các luồng ý kiến để tiếp tục hoàn thiện dự thảo. 

hiến pháp, dân chủ
MTTQ đã tập hợp được hơn 8 triệu ý kiến. Ảnh: Minh Thăng

Đáng ghi nhận là trong suốt thời gian vừa qua, các tổ chức đoàn thể đã tổ chức hàng loạt hội nghị, hội thảo để gấp rút thu thập ý kiến. Ngoài chuyên trang chính thống của Văn phòng Quốc hội, hầu hết phương tiện truyền thông đều mở chuyên mục và "chạy" bài vở đều đặn mỗi ngày. Song song đó, các mạng xã hội và nhiều diễn đàn khác cũng tập hợp ý kiến về sửa Hiến pháp theo nhiều cách thức khác nhau. Riêng theo "kênh" Mặt trận, đã có tới gần 8 triệu lượt ý kiến. Thậm chí, để "phổ cập" Hiến pháp tới toàn dân, các nhà làm luật cũng đã kịp soạn tài liệu có cái tên dễ hiểu "ABC về Hiến pháp".

Có thể coi đây cũng là thành công bước đầu của đợt sinh hoạt chính trị lần này.

Nhưng mọi chuyện chưa dừng lại. Điều quan trọng là sắp tới đây cơ quan chức năng sẽ tiếp nhận và xử lý thế nào với hàng triệu ý kiến đó. Hình hài bản dự thảo Hiến pháp liệu có thay đổi?

Các thành viên ban biên tập luôn khẳng định sẽ lắng nghe và giải trình đầy đủ việc tiếp thu/không tiếp thu ý kiến. Nhưng để làm được việc này sao cho xứng với kỳ vọng của dân cũng không dễ, tất cả đòi hỏi tầm trí tuệ để nhận biết và bản lĩnh để "lọc" ra đâu là thông tin hữu ích, phù hợp với xu thế phát triển. Tiếp thu được đến đâu, có tiếp thu gì không hay sẽ giải trình thế nào? Dân không góp ý chính sách kiểu "nghe rồi để đấy", huống hồ đây là chuyện tham gia vào quốc gia đại sự, là quyền lập hiến.

Trong buổi làm việc với lãnh đạo MTTQ cuối tuần qua, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trân trọng gọi những ý kiến đóng góp vừa qua là "tài sản quý". Thái độ và ứng xử thế nào với khối tài sản này là điều quan trọng. Người dân sẽ đợi để xem những người có trách nhiệm tiếp nhận và giải trình ra sao với các luồng ý kiến góp cho bản dự thảo Hiến pháp. Đặc biệt những ý kiến nghe ra có phần "nghịch nhĩ".

Thật ra, không đợi đến lúc toàn dân được phát động đóng góp ý kiến cho Hiến pháp mà câu chuyện này vốn đã được đặt ra từ lâu. Giới học giả đã xới xáo chuyện Hiến pháp từ mấy năm về trước.

Tuy nhiên, phải đến quãng thời gian vừa rồi, thì góp ý Hiến pháp mới trở thành một đợt sinh hoạt chính trị công khai, rộng rãi, nơi người dân có cơ hội bày tỏ chính kiến từ những vấn đề lớn lao của đất nước cho  đến quyền lợi thiết thực nhất của chính mình. 

Mọi vấn đề chưa được mổ xẻ cho đến tận cùng. Nhưng đây chính là thời cơ để các luồng ý kiến được cọ xát, được va chạm và nhờ đó mà vỡ vạc ra được nhiều vấn đề. Chưa bao giờ người dân có thể bày tỏ công khai trên các diễn đàn ngôn luận về nguyện vọng muốn được bầu trực tiếp nguyên thủ quốc gia, về việc kiểm soát hệ thống quyền lực, về cơ chế bảo hiến, về tăng (bớt) quyền cho những người đứng đầu các cơ quan hành pháp, lập pháp... 

Có được không khí thảo luận cởi mở như vậy một phần cũng bởi việc sửa đổi Hiến pháp lần này diễn ra trong một bối cảnh thuận hơn trước, đó là trình độ dân trí chung của xã hội đã cao hơn. Sự bùng nổ của truyền thông và mạng xã hội góp phần chuyển đi rất nhiều thông điệp và quan điểm. Với những nền tảng đó, nhận thức của người dân về quyền lập hiến cũng được nâng cao. Tất cả gây nên một phong trào tranh luận thực sự trong dân chúng về những vấn đề chính trị quan trọng và từ đây đặt vấn đề về bản chất của chế độ và nhu cầu dân chủ hóa chế độ.

Nói như TS Nguyễn Sĩ Dũng, đây cũng cơ là hội rất quan trọng để thực hành dân chủ. "Chính kiến xã hội được hình thành trên cơ sở tranh luận xã hội. Việc thảo luận và đóng góp ý kiến cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp sẽ giúp hình thành hàng loạt chính kiến của chúng ta về những vấn đề hệ trọng nhất của luật hiến pháp, đồng thời cũng giúp hoạt động lập hiến phản ánh được ý nguyện của đông đảo các tầng lớp nhân dân", TS Nguyễn Sĩ Dũng bình luận.

Lê Nhung/Theo vietnamnet