Thông tin giáo dục

Du học sinh Mỹ tại Việt Nam đã vượt ngưỡng 1.000 người

http://duhoc.dantri.com.vn/du-hoc/viet-nam-dung-thu-6-ve-so-luong-du-hoc-sinh-tai-my-20171115113049626.htm

(Dân trí) - Theo báo cáo hàng năm Open Doors của Viện Giáo dục Quốc tế (IIE), số lượng du học sinh Việt Nam tại Mỹ tăng năm thứ 16 liên tiếp. Ngược lại trong năm học 2016-2017, Việt Nam đã đón 1.012 sinh viên đến từ Hoa Kỳ, tăng 9,8%.

Theo báo cáo, trong năm học 2016 – 2017, Việt Nam tiếp tục đứng thứ sáu trong danh sách những nước dẫn đầu về số lượng sinh viên du học tại Mỹ. Cụ thể, với 22.438 sinh viên, tăng 1.035 sinh viên so với năm học 2015 – 2016, tức tăng gần 5%.

Lượng sinh viên Mỹ đến Việt Nam trong năm qua tăng (ảnh minh hoạ)
Lượng sinh viên Mỹ đến Việt Nam trong năm qua tăng (ảnh minh hoạ)

Báo cáo này cũng cho thấy có 1.078.822 sinh viên quốc tế đến Mỹ du học trong năm học 2016 – 2017, tăng 3,4 % so với năm trước. Sinh viên quốc tế hiện chiếm 5,3% tổng số sinh viên tại Mỹ, tăng nhẹ từ 5,2 % năm trước. Trong tổng số 22.438 sinh viên Việt Nam đang du học tại Mỹ, trong đó 68% theo học đại học; 15,6% học sau đại học, 9% tham gia thực tập không bắt buộc và 7,4 % còn lại theo học các chương trình không cấp bằng.

Theo báo cáo này, các ngành như Kỹ thuật, Kinh doanh và Quản trị, Toán và Khoa học Máy tính tiếp tục được sinh viên quốc tế theo học nhiều nhất trong năm học 2016-17. Toán và Khoa học Máy tính là ngành học tăng trưởng nhanh nhất với mức tăng 18% so với năm học 2015-2016. Các tiểu bang có nhiều sinh viên quốc tế du học nhất là California, New York, Texas, Massachusetts, Illinois, Pennsylvania, Florida, Ohio, Michigan, và Indiana.

Số liệu trong báo cáo cũng cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến quen thuộc hơn của sinh viên Mỹ. Trong năm học 2016-17, Việt Nam đã đón 1.012 sinh viên đến từ Hoa Kỳ, tăng 9,8%.

Mới đây, trong bài phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh các Tổng giám đốc APEC, ,Tổng thống Trump đã chia sẻ rằng “Học sinh Việt Nam nằm trong số những học sinh giỏi nhất thế giới. Và điều đó thật ấn tượng.” Giáo dục luôn là phần quan trọng trong quan hệ song phương giữa hai quốc gia. Hoa Kỳ sẽ tiếp tục xúc tiến các cơ hội để sinh viên Việt Nam du học tại Hoa Kỳ thông qua EducationUSA và Trung tâm Hoa Kỳ tại Hà Nội và TP.HCM.

Lê Phương

Thôi đừng nghĩ nghề giáo là cao quý nữa!

 

https://cuoituan.tuoitre.vn/tin/20171106/thoi-dung-nghi-nghe-giao-la-cao-quy-nua/1406183.html

NGUYỄN QUỐC TOÀN (*)   06.11.2017, 08:39

Muốn nghề giáo bớt cực nhọc hơn, có lẽ chúng ta không nên tung hô nghề giáo nữa. Nghề giáo không thanh cao hơn nghề khác nếu người thầy không đủ ăn. Càng bớt “tô hồng” việc “làm nhà giáo”, chúng ta càng thẳng thắn đối diện với thực tại và phải tìm cách giải quyết thực tại cay đắng là giáo viên ở Việt Nam còn quá khổ.

Thôi đừng nghĩ nghề giáo là cao quý nữa!
Có nên nghĩ nghề giáo là cao quý nữa?

Có bao giờ chúng ta tự hỏi nhau: Tại sao (phần lớn) người làm giáo viên, một nghề được coi là cao quý ở Việt Nam, lại khổ thế? Nếu là một nghề cao quý thì người ta phải thực sự tự hào, thực sự sống được với nghề đấy chứ nhỉ? 

Là một người từng làm thầy, tôi bị mắc kẹt mãi trong mâu thuẫn này. Sao nghề “cao quý” gì mà lại nghèo thế? Và sau một thời gian triền miên suy nghĩ, tôi đã trả lời mình như sau: Nghề giáo thông thường không phải là một nghề “cao quý” như chúng ta hay nghĩ.

Nghề giáo là nghề có thu nhập vào hàng thấp ở Việt Nam hiện giờ. Lương trung bình của một giáo viên phổ thông từ 5-10 triệu đồng/tháng, ngang bằng lương người lao động chân tay bình thường như công nhân khu công nghiệp, bảo vệ, người giúp việc, người lái xe ôm, mở cửa khách sạn, phục vụ quán ăn (thậm chí còn thấp hơn, nếu tính cả tiền hoa hồng).

Cơ hội tăng thu nhập chỉ có với những giáo viên rất giỏi và dạy những môn quan trọng như toán, tiếng Anh, hay dạy ở trường công nổi tiếng, các trường tư hoặc với người làm quản lý giáo dục. Đối với đại đa số giáo viên, mức lương chỉ tạm đủ sống “mòn”. Vậy thì rõ ràng nghề giáo hiện nay không phải là nghề đem lại cuộc sống tạm đầy đủ.

Thế tại sao nghề giáo trước đây lại được tôn kính và mơ ước? Thời xa xưa, làm thầy là một nghề đáng mơ ước. Người thầy hồi đó có khi không nhận được nhiều tiền, nhưng thực ra không hề nghèo.

Nghề làm thầy hồi ấy là một trong những nghề có tính “độc quyền” cao, có khi cả làng chỉ có một ông đồ. Không học thầy thì học ai? Nên dĩ nhiên là xã hội phải tôn trọng thầy. Học thì phải trả học phí, không nhất thiết là tiền mà có thể là vật chất như gạo, thịt.

Ngoài ra, người thầy cũng được hưởng khá nhiều đặc quyền đặc lợi trong làng xã. Tết, lễ, bao giờ cha mẹ cũng phải có quà cáp cho thầy. Chả thế mà cụ Nguyễn Khuyến đã từng trào lộng:

Sự học chẳng phải chơi 

Sáng cặp tối rèn, mổ bụng con nhét chữ

Nuôi thầy đâu có bỡn

Năm hết, tết đến, bổ đầu bố lấy tiền”.

Ông thầy nào có học trò giỏi đỗ đạt thì thầy ấy càng được trọng vọng, vì “sản phẩm” giáo dục của thầy đã được chứng minh chất lượng. Với một làng, xã chỉ có một ông thầy trong nhiều năm, kiểu gì chả có người đỗ đạt ở đó. Thầy lại càng được trọng vọng. Nghề làm thầy lại càng “cao quý”.

Mọi thứ đã thay đổi cả trong xã hội hiện đại: việc làm thầy không còn là nghề “độc quyền” trong một phạm vi địa lý nhỏ nữa, chuyện đỗ đạt để làm quan cũng không còn là mục đích cuối cùng của học sinh.

Sự “độc quyền” trong cung cấp dịch vụ giáo dục thuở trước mất đi, cùng với nó, sự “cao quý” của nghề giáo đi kèm những “bổng lộc” cũng nhạt dần. Giá trị của nghề giáo theo khuôn đúc xã hội xưa đã giảm đáng kể, nên suy nghĩ về tính chất “cao quý” của nghề giáo chỉ còn là một cảm giác hoài cổ về những giá trị xa xưa.

Thế thì khi nào làm thầy lại trở thành “cao quý”? Tôi tự vấn mình, tự nghĩ lại những lần mình đi dạy xem chuyện gì xảy ra? Sau mỗi lần đi dạy, khi thấy sinh viên mình dạy hiểu biết hơn, thành đạt hơn, tôi lại có cảm giác viên mãn.

Hóa ra việc đi dạy, việc chia sẻ kiến thức cho người khác làm tôi hạnh phúc chứ không chắc đã làm cho học trò của tôi hạnh phúc. Hoặc thực ra tôi hạnh phúc hơn học trò tôi rất nhiều, và càng nhiều học trò thành công thì niềm hạnh phúc của tôi càng tăng theo. Nên biết đâu, tôi đã nhầm lẫn, đánh đồng, coi cái việc làm mình hạnh phúc là một việc “cao quý”?

Vậy hóa ra việc đi dạy cũng giống như việc làm từ thiện? Cảm giác truyền lại hiểu biết của mình giống như cảm giác giúp đỡ người khác, cho đi, làm phúc. Giúp đỡ người khác luôn đem đến một cảm giác tuyệt vời. Có lẽ khi chúng ta giúp người khác, chúng ta cảm thấy mình tiến một bước gần tới đẳng cấp “thánh nhân”, chúng ta có cảm giác vượt trên sự tầm thường, được giải thoát khỏi những điều trần thế. Và điều đó đem lại cho chúng ta cảm giác hạnh phúc không gì sánh được.

Nhưng cũng giống như làm từ thiện, (phần lớn) người ta chỉ hạnh phúc khi họ khá đầy đủ, khi họ đã ấm no (một phần) về vật chất hoặc khi không còn cần bất cứ vật chất gì. Đó cũng là lý do nhiều doanh nhân, chính trị gia, người thành đạt... khi về hưu lại tích cực đi dạy, đi làm từ thiện. Vì họ có được cảm giác hạnh phúc, viên mãn khi dạy, khi cho.

Nhưng, gắn liền chuyện cho đi như thế với sự “cao quý” thực ra không phải chút nào. Do vậy, tôi sẽ không coi nghề giáo là “cao quý” theo một nội hàm xưa cũ nữa.

Muốn nghề giáo bớt cực nhọc hơn, có lẽ chúng ta không nên tung hô nghề giáo nữa. Nghề giáo không thanh cao hơn nghề khác nếu người thầy không đủ ăn. Càng bớt “tô hồng” việc “làm nhà giáo”, chúng ta càng thẳng thắn đối diện với thực tại và phải tìm cách giải quyết thực tại cay đắng là giáo viên ở Việt Nam còn quá khổ.

Và có lẽ, khi biết làm nghề giáo là thực sự khổ, không “cao quý” như mọi người vẫn nghĩ, sẽ có ít người muốn làm giáo viên hơn. Điều đấy chắc sẽ tốt hơn. Vì khi có nhu cầu giáo dục và với chất lượng cao, người ta sẽ phải sẵn sàng trả tiền cho nghề giáo một cách đàng hoàng, sòng phẳng theo quy luật thị trường (như ngày xưa), lúc đó có thể nghề giáo sẽ bớt khổ.

Hoặc là khi có quá ít người dạy chuyên nghiệp, những người đã thành đạt hoặc những người tình nguyện (đã một phần no ấm hay không quá khổ) sẽ tham gia dạy để có cảm giác hạnh phúc vì được cống hiến cho chính mình. Có lẽ đến lúc đó nghề giáo sẽ trở thành nghề “cao quý” vì nó không còn gắn liền với những đòi hỏi vật chất nữa.■

(*)  (Partner, Phụ trách mảng tư vấn chiến lược Công ty EY Việt Nam)

Học văn và nhân cách

http://daidoanket.vn/tin-tuc/xa-hoi/hoc-van-va-nhan-cach-384876

Bạn tôi kể chuyện con cô ấy học lớp 3, đang làm quen với dạng văn tả người. Đề bài cô giáo cho để các em tập luyện cũng phong phú như tả bố mẹ, ông bà, hoặc một người hàng xóm tốt bụng…Con nít vốn hồn nhiên, nên cho dù trước đó đã được cô đọc và hướng dẫn cho làm văn mẫu thì hơn 20 bài văn tả của các học sinh trong lớp của con là 20 bài tả thực rất sinh động. Có bạn tả mẹ gầy sọm vì vất vả, có bạn tả mẹ hay thay đổi kiểu tóc, bạn khác tả mẹ rất thích nghe nhạc...Còn con thì tả mẹ “vừa cao, vừa béo”…

Bài văn của con chỉ được cô cho điểm 7, con về hậm hực: cô chê con làm văn không hay vì tả người …xấu (!) Cô bảo tả người phải tả đẹp, nên những bạn nào tả mẹ đen, gầy, béo, thấp…cô đều sửa thành “ mẹ em rất thon thả và xinh xắn”. Đoạn kết mỗi bài văn đều phải có chung một ý đại loại: “ em hứa sẽ học giỏi để mẹ vui lòng”. Vì thế, khi đoạn kết bài văn của con có câu: “ em thích đến cuối tuần để được mẹ đưa đi chơi…”  đã bị cô gạch đỏ choe choét.

Câu chuyện bài văn của học trò tiểu học nghe thấy vui vui, nhưng cũng  khiến người ta liên tưởng ngay tới thực trạng giáo dục hiện nay, đó là việc dạy văn ( nói riêng), cũng như việc dạy và học nói chung đang rất khuôn mẫu, giáo điều. Mà chẳng phải bây giờ, từ hồi những phụ huynh như chúng tôi còn đi học phổ thông, những bài văn dù tả cảnh hay tả người cũng đều phải tuân theo một yêu cầu mẫu với đầy đủ mở bài, thân bài, kết luận. Tôi vẫn nhớ, khi cô giáo ra đề bài tả về ông nội, thay vì tả ông có mái tóc bạc phơ, màu da mồi rám nắng, ông rất yêu quí các cháu…thì cậu bạn ngồi bên cạnh tôi đã gần như kể một câu chuyện về hoàn cảnh gia đình mình.

Đó là một gia đình có đông con, nhưng không ai chịu nuôi ông nội đã già yếu ngoài 80 tuổi. Bà nội mất sớm nên ông phải ở một mình, ông tự chặt củi, luộc khoai, hôm nào hết gạo thì ông phải nhịn đói...Bài văn ấy tất nhiên bị cô giáo phê là lạc đề và xơi điểm kém. Ngày ấy, các phương tiện truyền thông cũng chưa phát triển như bây giờ nên câu chuyện bài lạc đề của bạn tôi chỉ được bàn tán rộ lên ở trường một vài hôm, rồi tất cả lại trở về như cũ. Sau bài văn bị chê là lạc đề ấy, cậu bạn lớp tôi càng trở nên ít nói hơn. Ngày ấy chúng tôi cũng còn quá nhỏ để hiểu và chia sẻ tâm tư với bạn. Lớn hơn một chút, nghĩ lại mới thấy chắc phải tâm trạng lắm, phải thương xót ông nội lắm bạn ấy mới viết ra những dòng gan ruột thế. Mà có lẽ cũng chẳng biết nói với ai, kể với ai nên nhân có đề tập làm văn tả người ông, bạn ấy mới thổ lộ những tâm sự thật của mình.

Tôi nghĩ sẽ có nhiều người đồng ý với tôi, chỉ khi viết ra những tâm tư tự đáy lòng, những cảm xúc thật nhất thì bài văn mới được coi là hay nhất. Đó quyết không phải những bài văn có mở bài, thân bài và kết thúc đều na ná giống nhau. Rõ ràng cách dạy văn và học văn như hiện nay chẳng những không giúp học sinh thể hiện tư duy sáng tạo, lại vừa không giúp các em thể hiện rõ nhân cách của mình.  “Văn là người”, hay nói rộng hơn văn chính là cuộc sống- tôi vẫn nhớ lời thầy giáo của mình từng dạy cách đây hơn nhiều chục năm về trước.

Linh Đan

Bình đẳng: Từ quan trọng nhất trong “hệ thống giáo dục tốt nhất thế giới”

http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/binh-dang-tu-quan-trong-nhat-trong-he-thong-giao-duc-tot-nhat-the-gioi-20171030145142572.htm

Dân trí “Bình đẳng là từ quan trọng nhất trong nền giáo dục Phần Lan”, lời khẳng định của Chủ tịch Hiệp hội Giáo viên Phần Lan Olli Luukkainen trong bài viết trên tạp chí Smithsonian đã tổng kết đặc điểm quan trọng hàng đầu của “hệ thống giáo dục tốt nhất thế giới”.

Tư tưởng bình đẳng giáo dục được nhà nước Phần Lan nêu ra trong một đạo luật ban hành năm 1860. Từ năm 1915, giáo dục được thừa nhận là một quyền công dân.

Từ năm 1963, chính phủ Phần Lan bắt đầu chuyển đổi hệ thống giáo dục như là một lực đẩy chủ yếu của kế hoạch phục hồi kinh tế đất nước. Một loạt các cải tổ đã được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, trong đó yếu tố bình đẳng được chú trọng hàng đầu.

Theo đó, Phần Lan bãi bỏ việc phân loại học sinh thành những nhóm có khả năng khác nhau. Tất cả học sinh dù giỏi hay kém đều được theo học cùng một lớp. Các lớp học được bố trí nhiều giáo viên đặc biệt có nhiệm vụ hỗ trợ các em và đảm bảo rằng không có học sinh nào bị tụt lại.

Hiện nay, ở bậc giáo dục cơ bản, Phần Lan không có bất kỳ một kỳ thi chuẩn hóa bắt buộc nào, trừ một kỳ thi cuối năm lớp 9. Không hề có xếp hạng, so sánh hoặc cạnh tranh giữa các học sinh, trường học hay khu vực. Một học sinh Phần Lan dù đến từ thành thị hay nông thôn đều được hưởng nền giáo dục như nhau. Khoảng cách giữa các học sinh giỏi nhất và yếu nhất ở nước này là nhỏ nhất thế giới, theo kết quả một cuộc thăm dò của tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).


Học sinh Phần Lan không được chia thành lớp chọn hay lớp thường. Tất cả học sinh dù giỏi hay kém đều được theo học cùng một lớp.

Học sinh Phần Lan không được chia thành lớp chọn hay lớp thường. Tất cả học sinh dù giỏi hay kém đều được theo học cùng một lớp.

 

 

Theo Foynd, Phần Lan thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong giáo dục ở các khía cạnh như:

- Bình đẳng giữa các trường: Tất cả các trường đều được tài trợ tài chính như nhau và có trang thiết bị giống nhau.

- Bình đẳng giữa các môn học: Không hề có sự chú trọng vào riêng một môn học nào.

- Bình đẳng giữa phụ huynh: Giáo viên không được phép hỏi về nơi làm việc của phụ huynh học sinh.

- Bình đẳng giữa học sinh: Học sinh không được chia thành lớp chọn hay lớp thường, cũng không chia theo xu hướng chọn nghề. Không có học sinh ngoan hay học sinh cá biệt, tất cả đều học cùng nhau. Giáo viên phải đối xử khách quan, công bằng với học sinh.

 


Trẻ em Phần Lan ăn trưa miễn phí tại trường với thực phẩm cân bằng dinh dưỡng. (Ảnh: Finland Today)

Trẻ em Phần Lan ăn trưa miễn phí tại trường với thực phẩm cân bằng dinh dưỡng. (Ảnh: Finland Today)

 

 

Giáo dục tại Phần Lan hoàn toàn miễn phí, kể cả chi phí học tập, sách vở giấy bút, ăn trưa, chăm sóc y tế, các chuyến tham quan, đi lại của học sinh, dạy phụ đạo cho học sinh yếu và giáo dục cho trẻ em thiểu năng trí tuệ. Những khoản đầu tư này đều do nhà nước chi trả. Theo Bright Side, hơn 12,2% ngân sách nhà nước của Phần Lan là dành cho giáo dục.

Với việc thực hiện kế hoạch táo bạo khi chọn lĩnh vực cải cách giáo dục công lập để phục hồi kinh tế từ năm 1963 mà trong đó yếu tố bình đẳng được đặt lên hàng đầu, Phần Lan đã gặt hái những thành quả giáo dục khiến cả thế giới bất ngờ, trong đó có việc đứng vị trí top đầu trong các bảng xếp hạng toàn cầu.

 


Trong danh sách 11 nước đứng đầu thế giới về chất lượng giáo dục được Independent đăng tải ngày 19/11/2016 dựa trên phân tích dữ liệu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Phần Lan ở vị trí số 1.

Trong danh sách 11 nước đứng đầu thế giới về chất lượng giáo dục được Independent đăng tải ngày 19/11/2016 dựa trên phân tích dữ liệu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Phần Lan ở vị trí số 1.

Xuân Vũ